This is featured post 1 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 2 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
This is featured post 3 title
Replace these every slider sentences with your featured post descriptions.Go to Blogger edit html and find these sentences.Now replace these with your own descriptions.
Thứ Sáu, 22 tháng 8, 2014
Ung thư cổ tử cung và các giai đoạn phát triển
Xác định được các giai
đoạn phát triển của ung thư cổ tử cung để phát hiện sớm và có phương pháp điều
trị kịp thời giúp bảo vệ sức khỏe của mình tốt nhất. Ung thư cổ tử cung được cho
rằng là bệnh ung thư nguy hiểm nhất và có khả năng gây tử vong cao thứ 2 ở phụ
nữ. Tuy nguy hiểm nhưng nếu bệnh được phát hiện và điều trị kịp thời thì vẫn có
khả năng chữa khỏi bệnh.
Nếu sớm phát hiện
các dấu hiệu ung thư cổ tử cung và có phương pháp điều trị kịp
thời thì 92% số người mắc bệnh có thể được chữa khỏi hoặc thời gian sống được
kéo dài đáng kể. Tuy nhiên, ở Việt Nam, tỷ lệ người mắc ung thư cổ tử cung được
phát hiện sớm lại không cao do chưa nắm chắc về các giai đoạn phát triển của ung
thư cổ tử cung.
Các giai đoạn phát
triển của ung thư cổ tử cung bao gồm:
- Giai đoạn 1:
Nhiễm virus HPV (Human Papilloma Virus)
Hầu hết các loại HPV đều
tự biến mất và không gây tổn hại đến sức khỏe, nhưng một vài loại này lại có thể
làm cho các tế bào của cổ tử cung phát triển bất bình thường gây ra ung thư cổ
tử cung.
Nếu
ung thư cổ tử cung được phát hiện sớm và có phương pháp điều trị kịp thời thì nó
có thể được chữa khỏi hoặc thời gian sống được kéo dài đáng kể. Nếu phòng ngừa
sớm thì bạn có thể không mắc phải căn bệnh này. Nhưng nếu bệnh đã phát triển
thành ung thư chưa di căn mà được phát hiện sớm để điều trị kịp thời thì tỷ lệ
sống có thể là 92%. Khi các giai đoạn phát triển của căn bệnh
thường gặp này tiến xa thì tỷ lệ sống của bạn vẫn là 58%. Khi
ung thư đã ở giai đoạn cuối thì bạn chỉ có 17% cơ hội sống
sót.
Các giai đoạn phát triển của ung thư cổ tử
cung
- Giai đoạn 2:
Tiền ung thư
Có khoảng 10% phụ nữ bị
nhiễm HPV phát triển sang giai đoạn tiền ung thư. Thời gian kể từ khi nhiễm HPV
đến tiền ung thư kéo dài từ 5-10 năm. Phụ nữ trong giai đoạn này vẫn bình thường
và chưa được gọi là mắc bệnh “ung thư”. Giai đoạn này nếu được phát hiện sớm và
có phương pháp điều trị kịp thời thì bệnh sẽ không phát triển thành ung
thư.
- Giai đoạn 3: Ung
thư chưa/không di căn
Các phương pháp điều trị
giai đoạn này có thể là: cắt tử cung, hoặc kết hợp nạo các hạch có chọn lọc, xạ
trị, hóa trị... Sau khi phẫu thuật, một số trường hợp ung thư cổ tử cung sẽ
không phát triển thêm hoặc bệnh được chữa khỏi. Hoặc điều trị xạ trị: xạ trị mỗi
khối u đơn lẻ hoặc phối hợp xạ trị ngoài vùng chậu trước khi phẫu thuật, xạ trị
ngoài vùng chậu sau mổ hoặc hóa - xạ đồng thời sau mổ. Tùy từng trường hợp có
thể hóa trị.
Ở giai đoạn này, các tế
bào ung thư phát triển chủ yếu trong cổ tử cung và trieu chung ung thu
co tu cung cũng trở nên rõ ràng hơn. Nếu được điều trị hợp lý sẽ đem
lại một kết quả khả quan cho người bệnh. Có khoảng khoảng 12% những người trong
giai đoạn 2 sẽ phát triển thành ung thư.
- Giai đoạn 4: Ung
thư di căn
Trong giai đoạn này, các
tế bào ung thư xâm lấn sang các bộ phận khác của cơ thể, đây chính là giai đoạn
nguy hiểm nhất của bệnh. Khoảng 1% bệnh nhân ở giai đoạn 2 phát triển thành loại
ung thư nguy hiểm này. Phần lớn phụ nữ mắc bệnh ở giai đoạn này là sau thời kì
mãn kinh. Vì vậy, chị em nên kiểm tra phụ khoa định kỳ để kịp thời phát hiện u
xơ cổ tử cung
Ung thư cổ tử cung không
phải lúc nào cũng tiến triển theo 4 giai đoạn trên. Có nhiều trường hợp ung thư
chỉ phát triển đến giai đoạn 2 hoặc 3 thì dừng lại không phát triển nữa và dẫn
mất đi. Tốc độ phát triển của các khối ung thư cổ tử cung cũng không giống nhau,
nó cũng còn tùy thuộc vào hệ thống miễn dịch của mỗi người.
Ung thư cổ tử cung
có chữa được không? Ở giai đoạn này, các khối ung thư không thể áp dụng
phương thức phẫu thuật triệt để nhưng vẫn có thể chữa được bằng cách sử dụng
phương pháp: xạ trị ngoài vùng chậu đơn thuần, hóa trị đồng thời với xạ trị
ngoài vùng chậu, xạ trị ngoài vùng quanh động mạch chủ bụng nếu có di căn hạch
cạnh động mạch chủ bụng; xạ trị trong…
Phụ nữ ở mọi độ tuổi nên
kiểm tra phụ khoa định kỳ hàng năm để kịp thời phát hiện và điều trị các dấu
hiệu của ung thư cổ tử cung trước khi nó ảnh hưởng đến cuộc sống của mình và trở
nên quá muốn.
Ngoài ra, hàng ngày bạn có
thể sử dụng thêm các loại thực phẩm có tác dụng phòng ngừa u nang, u xơ để có
một hệ miễn dịch tốt chống lại các nguy cơ của bệnh ung thư. Chúc bạn luôn vui
khỏe!
Nguyên nhân dẫn đến bệnh tim bẩm sinh
Bệnh tim bẩm sinh là gì? Là
các dị tật của buồng tim, van tim, vách tim va các mạch máu lớn, xảy ra từ lúc
còn ở bào thai. Và theo Tổ chức Y tế thế giới, cứ 1000 trẻ em ra đời, thì 8 em
trong số đó mắc bệnh Tim bẩm sinh… Tại Việt Nam, trung bình mỗi năm có thêm
10.000 trường hợp mang căn bệnh này…
Bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh hiện
đang là căn bệnh đáng báo động. Bệnh tim bẩm sinh chiếm đến 90% tổng số các bệnh
tim mạch ở trẻ em và tần suất mắc bệnh ở trẻ em khoảng từ 0,7 - 0,8%. Tìm hiểu
về nguyên nhân và dấu hiệu bệnh tim bẩm sinh giúp phát hiện sớm để trẻ có được
chế độ chăm sóc và điều trị hợp lý
1. Nguyên nhân dẫn
đến bệnh tim bẩm sinh
Do yếu tố di
truyền
Di truyền trên nhiễm sắc
thể thường mang gen trội với các hội chứng đa dị tật: Bệnh tim bẩm sinh là dị
tật chính như hội chứng Noonan (bệnh di truyền có liên quan tới tim), hội chứng
Marfan (hội chứng di truyền ảnh hưởng đến mô liên kết).
Di truyền trên nhiễm sắc
thể thường mang gen lặn: hội chứng Jervell (quá trình kéo dài, đột tử), hội
chứng Ellis Van Creveld (tim chỉ có 1 nhĩ kèm các dị tật khác). Di truyền theo
thể ẩn có liên quan đến nhiễm sắc thể giới tính: thường bị ở trẻ trai như hội
chứng Hunter (dị tật ở nhiều van tim và động mạch vành), loạn dưỡng cơ
Duchenne.
Dấu hiệu nhận biết bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ
sinh
Sai lệch nhiễm sắc
thể
Chiếm khoảng 5% các bệnh
tim bẩm sinh, thường luôn đi kèm với hội chứng đa dị tật. Thường gặp là tam
nhiễm sắc thể 13, 18, 21 (gây hội chứng down), nhiễm sắc thể 22 (gây hội chứng
turner) và hội chứng Turner (triệu chứng về khuyết tật di
truyền).
Một số nguyên
nhân ngoại lai xảy ra trong khi mang thai
Các bệnh của mẹ mắc khi
đang mang thai: đái tháo đường, bệnh Lupus ban đỏ (là bệnh tự sinh ra kháng thể
chống lại chính bản thân mình).
Các tác nhân vật lý như
các loại tia phóng xạ, tia gama, tia quang tuyến X. Nhiễm độc các loại hóa chất,
độc chất, các thuốc kháng động kinh, thuốc an thần. Nhiễm trùng virus đặc biệt
là Rubella trong 3 tháng đầu có thai.
2. Dấu hiệu nhận
biết bệnh tim bẩm sinh ở trẻ em
Trẻ bị bệnh tim bẩm sinh
thường có các biểu hiện như rất dễ mệt, trẻ có thể mệt trong lúc chơi đùa, ăn,
bú… nên thường phải ngưng lại, nghỉ một lúc để thở rồi mới bú, ăn hoặc chơi đùa…
tiếp. Bệnh còn thường gây biến chứng ở hệ hô hấp nên trẻ thường bị ho, khò khè,
thở nhanh, lồng ngực bị rút lõm khi hít vào…
Vì mệt nên trẻ thường bú
kém, biếng ăn, ít hoạt động, thêm vào đó tình trạng nhiễm trùng do bội nhiễm hô
hấp tái phát nhiều lần càng làm cho trẻ chậm phát triển về thể chất: trẻ chậm
lên cân, thậm chí không tăng cân hoặc sụt cân, chậm mọc răng, chậm biết lật,
biết bò, biết đứng, biết đi và cũng chậm phát triển về chiều cao so với trẻ bình
thường.
Có những trẻ bị tím,
thường thấy ở môi, mí mắt, móng tay, móng chân; trẻ bị tím nhiều hơn khi gắng
sức, càng lớn tím càng tăng; lồng ngực có thể bị biến dạng, bên trái nhô cao;
đầu ngón tay, đầu ngón chân to bè ra giống như dùi trống…
Sức khỏe kém cũng khiến
trẻ gặp khó khăn trong học tập và sinh hoạt (học lực kém, thiếu tập trung, không
năng động…) và có mặc cảm về tâm lý.
Tuy nhiên, bệnh tim bẩm
sinh ở trẻ sơ sinh thường khó phát hiện ngay sau sinh vì không dễ dàng để nhận
biết các biểu hiện của bệnh, các triệu chứng không rõ ràng nên cần phải được
thăm khám tỉ mỉ đồng thời kết hợp với các phương tiện cận lâm sàng như X quang
tim phổi, điện tâm đồ, siêu âm tim để chẩn đoán xác định và đánh giá mức độ nặng
nhẹ của bệnh nhằm theo dõi và điều trị sớm.
Ngoài ra căn bệnh
thường gặp này còn để lại các dị tật bẩm sinh khác như hội chứng Down,
tật thừa ngón và dính ngón… và kiểm tra những trẻ có mẹ bị nhiễm virus trong 3
tháng đầu của thai kỳ (như Rubéole, quai bị, Herpès, Cytomégalovirus nhiễm
Coxsackie B…), mẹ bị tiểu đường, Lupus ban đỏ…
3. Phân loại tim
bẩm sinh ở trẻ em
- Tật bẩm sinh chung của
tim: vị trí bất thường của tim: tim sang phải, đảo ngược phủ
tạng,..
- Bệnh tim bẩm sinh không
tím có luồng thông trái - phải: thông liên thất, thông liên nhĩ, còn ống động
mạch, thông sàn nhĩ thất,…
- Bệnh tim bẩm sinh không
tím, không có luồng thông: hẹp động mạch chủ, tim có 3 buồng nhĩ, hẹp động mạch
phổi,..
- Bệnh tim bẩm sinh có
tím, luồng thông phải-trái: tứ chứng fallot, tam chứng fallot, teo van 3
lá,…
4. Hướng điều trị
bệnh tim bẩm sinh ở trẻ sơ sinh
Theo Thạc sỹ – Bác sỹ
Nguyễn Sinh Hiền, hầu hết các bệnh tim bẩm sinh trước đây không điều trị được
nên bệnh nhi thường tử vong trong quá trình phát triển. Tuy nhiên, với điều kiện
y học hiện đại ngày nay, hầu hết các bệnh tim bẩm sinh có thể điều trị khỏi hoặc
gần như khỏi hoàn toàn và có nhiều thành công.
Tại Việt Nam, hầu hết các
bệnh tim bẩm sinh nặng đều có thể phẫu thuật được. Đa số các bệnh tim bẩm sinh
đều cần phải phẫu thuật để sửa chữa lại những tổn thương giải phẫu để đưa trái
tim của bệnh nhi gần như tim của người bình thường. Trên cơ sở đó thì những chức
năng, hoạt động sinh lý sẽ được thiết lập lại.
Còn một số chứng tim bẩm
sinh không cần phẫu thuật mà có thể tự khỏi trong quá trình phát triển của cơ
thể trẻ như chứng thông liên thất hay thông liên nhĩ lỗ nhỏ và chúng không ảnh
hưởng đến sinh hoạt cũng như phát triển của trẻ.
5. Có thể phòng
ngừa mắc tim bẩm sinh?
Hầu hết các dị tật tim bẩm
sinh hay bệnh hở van tim 2 lá đều không phòng ngừa được. Tuy
nhiên bà mẹ trước khi có ý định sinh con có thể thực hiện một số bước làm giảm
nguy cơ mắc bệnh tim bẩm sinh cho con: bổ sung vitamin, chủng ngừa phòng cúm và
rubella, gặp bác sĩ để được tư vấn về lối sống, thức ăn và sử dụng thuốc khi
mang thai, tránh tiếp xúc với các hoá chất độc hại.
Việc phát hiện sớm căn
bệnh tim bẩm sinh sẽ giúp cho trẻ có được chế độ chăm sóc và điều trị hợp lý.
Ngoài những biểu hiện có thể quan sát được bằng mắt thường, các gia đình cũng
chú ý kiểm tra sức khỏe cho con em mình thường xuyên, để đảm bảo cho trẻ có được
sự phát triển tốt nhất.
Posted in: bệnh timThứ Tư, 20 tháng 8, 2014
Chế độ ăn uống tốt cho người bệnh tiểu đường
Chế độ ăn kiêng giữ một vai trò quan trọng trong việc
tình trạng bệnh của bệnh nhân tiểu đường. Tiểu đường còn được gọi là đái tháo
đường là một bệnh nội tiết do trong cơ thể thiếu hoặc không có nội tiết tố
insulin.
Nguyên nhân bệnh tiểu đường một phần
là do thói quen ăn uống và tập luyện do đó có thể được điều trị bằng chế độ ăn
hợp lý trong trường hợp bệnh nhẹ, tiểu đường tiềm tàng) hoặc kết hợp với các
thuốc hạ đường huyết đối với các thể tiểu đường (đái đường) mức độ trung bình và
nặng.
Ở bệnh nhân cân nặng bình thường (tiểu đường phụ thuộc
Insulin hay không phụ thuộc Insulin), chế độ ăn kiêng phải được chuẩn về chất
lượng (hạn chế gluxit và lipit) và cố định về số lượng.
Chế độ ăn kiêng cần được điều chỉnh theo từng bệnh nhân
và theo mục tiêu điều trị của bác sĩ.Trong những ngày đầu hay trong những tuần
đầu tiên, thức ăn phải được cân để sau đó bệnh nhân biết cách ước tính trọng
lượng của các loại thực phẩm một cách tương đối.

Một số áp dụng trên thực tế:
- Thực phẩm cung cấp protit: 100g thịt nạc tương đương
với 15-18g protit
- Thực phẩm cung cấp gluxit : Bánh mì 40g, gạo 25g, mì
sợi 30g, khoai tây 100g, khoai mì tươi 60g, đậu 40g, 1 trái cam vừa, 1 trái
chuối vừa, 1 trái táo, 100g nho, 250g dâu tây, 1 trái thơm, 1 trái xoài vừa đều
tương đương với 20g gluxit.
- Thực phẩm cung cấp lipit: 100g dầu ăn tương đương với
90-100g lipit.
1. Đối với thức ăn chứa tinh bột:
Người mắc bệnh tiểu
đường nên ăn các loại bánh mì không pha trộn với phụ gia như
bánh mì đen, gạo lứt, khoai tây, khoai sọ... lượng tinh bột đưa vào cơ thể người
tiểu đường nên bằng khoảng 50-60% người thường. Sử dụng thường xuyên các loại
ngũ cốc thô, chà xát ít vì lớp vỏ có chứa nhiều Vitamin và khoáng chất có lợi
cho sức khỏe. Phương thức chế biến chủ yếu là luộc, nướng hoặc hầm chứ không nên
chiên xào.
2. Đối với chất béo:
Phải hết sức hạn chế mỡ, các bác sĩ khuyến cáo lượng
cholesteron đưa vào phải dưới 300mg mỗi ngày và lượng mỡ bão hòa phải thay bằng
các loại dầu thực vật như dầu đậu nành, dầu olive, dầu mè
3. Đối với chất đạm:
Pate không tốt cho bệnh tiểu đườngHạn chế tối đa thịt
hộp, patê, xúc xích... thay vào đó hãy ăn cá, trứng sữa, các sản phẩm chế biến
từ sữa, đậu... nên ưu tiên cá mòi và cá chích vì trong hai loại cá này có chứa
chất béo có lợi cho việc chống lại bệnh tim mạch và ung thư. Người tiểu đường
(đái đường) có thể ăn các loại thịt lợn, thịt bò đã lấy sạch mỡ. Tránh tuyệt đối
da gà, da vịt bởi nó có chứa rất nhiều cholesterol. Cũng như thực phẩm chứa tinh
bột, nên chọn cách chế biến là luộc, kho, nướng hơn là chiên.
4. Chất ngọt

Chất ngọt là nguyên nhân trực tiếp gây bệnh đái tháo
đường, nó làm trầm trọng thêm quá trình bệnh lý, tăng các biến chứng nặng nề của
bệnh. Lời khuyên của bác sĩ là tránh xa tuyệt đối các loại bánh kẹo, nước ngọt
có ga, rượu... Bệnh nhân tiểu đường nên sử dụng các chất ngọt nhân tạo có thể
thay đường trong nước uống như Aspartam và sacharine vừa giúp làm giảm lượng
đường ăn vào mà vẫn giữ được ngon miệng.
5. Rau, trái cây tươi:
Một ngày bệnh nhân tiểu đường (đái đường) nên ăn khoảng
400 gram rau và trái cây tươi, rau quả tươi vừa có tác dụng chống lão hóa, vừa
là thức ăn bổ sung vitamin, muối khoáng tốt nhất. Nên ăn cả xác hơn là ép lấy
nước uống, chất xơ ở rau quả là thành phần quan trọng làm giảm đường, làm chậm
hấp thu đường và đỡ tăng đường sau khi ăn. Tuy nhiên, không phải loại trái cây
nào cũng tốt, người mắc bệnh tiểu đường phải tránh các loại trái cây ngọt như
nho, xoài, na, nhãn...
Giữ vững thành phần và thời gian ăn là quan trọng, kết
hợp với thể dục thể thao thường xuyên chính là phương pháp điều trị bệnh hiệu
quả nhất. Tuy nhiên, chế độ ăn cụ thể phải dựa trên từng bệnh nhân, cân nặng,
lượng đường trong máu, bệnh đã có các biến chứng hay chưa. Do vậy cần tham khảo
ý kiến của bác sĩ đang theo dõi và điều trị.
Người bệnh tiểu đường nên kiêng
gì và kiêng như thế nào?
-Thực phẩm cấm: Đường, mía, tất cả các loại sữa chế
biến, cà phê, kẹo, đá chanh, trái cây đóng hộp, nước quả ép, kẹo, mứt, chè,
mỡ.
-Thực phẩm hạn chế: Cơm, mì xào, hủ tiếu, bánh canh,
bánh mì, các loại khoai ( khoai lang, khoai mì...), bánh bích qui, trái cây
ngọt.
-Thực phẩm không hạn chế: Thịt, tôm, cá, cua, mắm, rau,
tất cả các loại đậu.
Các thực phẩm như trái cây (nhất là lê, táo), rau, đậu,
ngũ cốc có thể cung cấp cho cơ thể một lượng đường chậm (tức đường phải qua quá
trình tiêu hóa mới trở thành đường hấp thu vào cơ thể) điều đó sẽ giúp cho lượng
đường trong máu không quá cao hoặc quá thấp đồng thời cung cấp chất xơ có ích và
chất khoáng chứa vcom kiểm soát lượng đường trong máu.
Ở bệnh nhân tiểu đường, đường huyết thường tăng cao sau
bữa ăn. Vì thế nên cho bệnh nhân ăn nhiều lần và phân bố lượng calo mỗi bữa cho
thích hợp.
Nếu cần:
- 1200-1600 Kcalo/ngày thì nên chia ba bữa theo tỉ lệ 1/3
- 1/3 - 1/3
- 2000-2500 Kcalo/ngày thì nên chia bốn bữa theo tỉ lệ
2/7 - 2/7 - 2/7 - 1/7
- trên 2500 Kcalo/ngày thì nên chia năm bữa theo tỉ lệ
2/9 - 2/9 - 2/9 - 2/9 - 1/9
Trường hợp đang dùng thuốc hạ đường huyết thì nên ăn
trước khi ngủ hay thêm bữa vào những bữa ăn chính.Vì thế người ta khuyên nên ăn
gạo không chà kỹ quá. Nên hạn chế rượu vì rượu có thể thúc đẩy hạ đường huyết
trên bệnh nhân đang điều trị với thuốc hạ đường huyết.
Benh tieu duong nen an trai cay gi? Các loại trái
cây có chứa quá nhiều đường cũng rất nguy hiểm cho người bị bệnh tiểu đường, bạn
có thể ăn các loại trái cây như dâu tây, bơ, đu đủ, táo lê...Các thực phẩm giàu
chất xơ sẽ làm giảm đỉnh cao đường huyết sau khi ăn và có thể kéo dài sự hấp thu
của chất đường. Chất xơ cũng còn có tác dụng giữ nước, hấp thu axit mật, thường
có trong cám ngũ cốc, khoai tây, rau xanh, trái cây nhất là các loại họ
đậu.
Posted in: bệnh tiểu đườngThứ Năm, 7 tháng 8, 2014
Triệu chứng và điều trị bệnh giang mai ở nam giới
Bệnh Giang Mai ở Nam giới thường có nguy hại rất lớn tới
đời sống hàng ngày và nếu không được điều trị đúng cách thì bệnh sẽ rất dễ tái
phát và khó chữa trị triệt để được. Do đó cần nắm vững những triệu chứng bệnh
giang mai để điều trị kịp thời.
Trong vòng 2 – 3 ngày phát triển rộng ra và thành những
mụn nhỏ, sau đó chuyển thành cứng, và cuối cùng là chuyển sang trạng thái lở
loét. Trong thời gian này, các hình thức biểu hiện của mụn thường là mụn hình
tròn hoặc hình bầu dục, đường kính thường từ 1 – 2 cm, có ranh giới rõ ràng,
xung quanh bên ngoài có kiểu bờ nước, đê, có chứa vi khuẩn bên trong.
Những triệu chứng và dấu hiệu bệnh giang
mai ở nam giới
Triệu chứng bệnh giang mai ở nam giới giai đoạn
1:

Đây là giai đoạn rất quan trọng để phát hiện và điều trị
kịp thời. Trong giai đoạn đầu này, sau khi tiếp xúc với nguồn lây nhiễm từ 7 -
60 ngày ( thường là sau 21 ngày) người bệnh sẽ xuất hiện tổn thương ở quy đầu,
bao quy đầu, rãnh quy đầu, lưỡi và cả trực tràng. Đây là một dạng viêm loét
nông, hình tròn hoặc bầu dục, bờ nhẵn, có màu đỏ, không ngứa không đau, không có
mủ đáy viêm loét thâm nhiễm cứng có thể kèm theo hiện tượng nổi hạch.
Triệu chứng bệnh giang mai ở nam giới giai đoạn
2:
Ở giai đoạn này người bệnh thường có những biểu hiện
nghiêm trọng về tổn thương niêm mạc và nổi mụn toàn thân. Bệnh có thể làm xuất
hiện các mảng sẩn, các nốt ban đỏ không ngứa trên toàn thân hoặc tứ chi bao gồm
cả lòng bàn tay, bàn chân
Triệu chứng bệnh giang mai ở nam giới giai đoạn
3:
Nếu không được điều trị kịp thời 60% số người mắc bệnh sẽ
xuất hiện triệu chứng sưng mủ gây tổn thương tới các cơ quan, hệ thần kinh, tĩnh
mạch, gan , thận,...nghiêm trọng hơn còn có thể đe dọa tới tĩnh mạch và gây ra
những tổn thương không thể chữa trị.
Giang mai có rất nhiều biến chứng, chúng có thể gây nguy
hiểm cho tính mạng người bệnh. Có thể nói rằng “giang mai là một diễn viên biệt
tài”, có thể đóng vai mang đặc điểm của hơn chục bệnh nội, ngoại khoa khác nhau,
đơn giản vì xoắn khuẩn giang mai có thể gây tổn thương tất cả các cơ quan trong
cơ thể, từ da, niêm mạc, mắt đến các nội tạng như gan, tim mạch, thần kinh. Một
số biến chứng nguy hiểm là viêm động mạch chủ, phình động mạch chủ, bại liệt
toàn thân, rối loạn tâm thần, viêm gan. Giang mai bẩm sinh có thể gây tử vong
cho thai nhi hoặc dị dạng thai sau khi sinh.
Điều trị Giang mai ở nam giới cần chú ý những
gì?
Bệnh giang mai là gì? Cần điều trị sớm và kiên
trì, uống thuốc đủ liều. Chỉ khi bệnh nhân kiên trì và tuân thủ theo điều trị
của bác sĩ các triệu chứng của bệnh mới nhanh được đẩy lùi và hồi phục. Phương
pháp điều trị giang mai ở nam giới? Trong quá trình điều trị, vợ hoặc chồng của
người nhiễm bệnh cũng cần kết hợp tiến hành xét nhiệm và điều trị cùng lúc. Sau
khi điều trị cần tái khám theo định kì, nếu có biểu hiện tái phát cần tăng lượng
kháng sinh điều trị.
Chú ý vệ sinh cá nhân sạch sẽ, thay và giặt quần lót hàng
ngày, thường xuyên khử trùng đun sôi, không dùng chung bồn tắm và bồn cầu với
người khác. Có những phương pháp điều trị giang mai nào? Khi thấy xuất hiện các
mụn cóc cần nhanh chóng thanh nhiệt giải độc, tắm và ngâm mình bằng các loại
thảo dược có tính diệt khuẩn, tránh lây nhiễm cho người khác.
Nguyên tắc điều trị Giang mai ở nam
giới:
Cần chuẩn đoán bệnh chính xác, khi điều trị cần chú ý
theo dõi, đồng thời cũng cần phải tiến hành xét nghiệm và kiểm tra đối với những
người có quan hệ tình dục với người bệnh. Cần lưu ý, nếu bệnh được điều trị càng
sớm hiệu quả điều trị càng cao, khả năng khỏi hẳn bệnh là lên đến 90%.
Thời kì tiềm ẩn trong giai đoạn 1 của
căn benh thuong gap này cần phải chú ý theo dõi
để tránh tái phát. Sau một đợt điều trị cần tái khám lại 3 tháng 1 lần trong
vòng 1 năm, sau đó nửa năm khám lại 1 lần,trong vòng 2-3 năm. Nếu thấy có hiện
tượng tái phát cần tăng thêm liều lượng.
Cách Phòng tránh bệnh giang mai đơn giản và hiệu quả nhất
cho bệnh giang mai chính là thực hiện sống lành mạnh, chung thủy một vợ một
chồng để có thể phòng bệnh một cách hiệu quả
Posted in: bệnh giang maiThứ Bảy, 2 tháng 8, 2014
Độc đáo tranh nghệ thuật được vẽ bằng Excel
Bạn
đã quá quen thuộc với phần mềm Excel và nghĩ rằng nó chỉ phục vụ trong tinh? Vậy
thì bạn có thể sẽ bất ngờ khi được chiêm ngưỡng sự kỳ diệu của những
bức tranh nghệ thuật tuyệt đẹp được vẽ qua phần mềm Excel
này.
Tuy nhiên, với cụ ông Tatsuo Horiuchi - 73 tuổi, người Nhật Bản - thì lại khác. Ông đã sử dụng phần mềm Excel để vẽ nên những bức tranh nghệ thuật cực kỳ đẹp mắt và ấn tượng.
Nếu có ý tưởng vẽ tranh trên máy tính chắc hẳn nhiều người sẽ nghĩ ngay đến những phần mềm đồ họa cao cấp và chuyên nghiệp, hoặc đơn giản hơn là sử dụng công cụ Paint sẵn có trong Windows. Và cho dù là ai, là người giàu trí tưởng tượng nhất đi nữa chắc cũng không nghĩ ra rằng sẽ sử dụng phần mềm Excel, công cụ chuyên cho mục đích tính toán hay thống kê, dùng để vẽ nên những tác phẩm nghệ thuật.
Trong
những năm đầu khi mới nghĩ hưu, ông Horiuchi cho rằng cần phải làm một điều gì
đó sáng tạo cho nghệ thuật, nên ông đã quyết định mua một chiếc máy tính và bắt
đầu quá trình vẽ tranh trên phần mềm miễn phí Excel.
Nhưng tại sao ông lại chọn Excel mà không phải là một phần mềm nào khác? Theo ông Horiuchi, các phần mềm đồ họa để vẽ tranh trên máy tính thường có bản quyền rất đắt đỏ, trong khi đó Microsoft Excel là phần mềm được tặng kèm sẵn trong chiếc máy tính mà ông đang sử dụng. Còn phần mềm Paint đi cùng với Windows thì lại quá khó để vẽ tranh.
Mặc dù ông Horiuchi chưa từng sử dụng phần mềm Excel trước đây cho công việc của mình, tuy nhiên trong thời gian đi làm trước khi nghỉ hưu, ông thường xuyên thấy các đồng nghiệp sử dụng Excel để vẽ biểu đồ, nên ông cho rằng cũng có thể sử dụng Excel để vẽ những bức tranh treo tuong mang đầy tính nghệ thuật.
Ông
thường bán tác phẩm của mình tại các cuộc triển lãm cũng như tặng chúng cho các
thư viện. Với ông, bảng tính Excel không đơn thuần chỉ được dùng để tính toán
các con số, dựng bảng biểu mà nó còn là nơi để ông thỏa sức sáng tạo các tác
phẩm tranh nghệ thuật.
Đến với Sieuthitranhdep.net không gian sống của bạn sẽ trở nên sinh động, tươi trẻ và đầy màu sắc với các thể loại tranh phong cảnh, tranh đồng hồ, tranh thêu, tranh da quy phù hợp với mọi thiết kế nội thất. Vui lòng liên hệ 0963.202.265 để được tư vấn nhiều hơn!
Tuy nhiên, với cụ ông Tatsuo Horiuchi - 73 tuổi, người Nhật Bản - thì lại khác. Ông đã sử dụng phần mềm Excel để vẽ nên những bức tranh nghệ thuật cực kỳ đẹp mắt và ấn tượng.
Nếu có ý tưởng vẽ tranh trên máy tính chắc hẳn nhiều người sẽ nghĩ ngay đến những phần mềm đồ họa cao cấp và chuyên nghiệp, hoặc đơn giản hơn là sử dụng công cụ Paint sẵn có trong Windows. Và cho dù là ai, là người giàu trí tưởng tượng nhất đi nữa chắc cũng không nghĩ ra rằng sẽ sử dụng phần mềm Excel, công cụ chuyên cho mục đích tính toán hay thống kê, dùng để vẽ nên những tác phẩm nghệ thuật.
Sự kỳ diệu trong tranh nghệ thuật được vẽ qua
Excel
Nhưng tại sao ông lại chọn Excel mà không phải là một phần mềm nào khác? Theo ông Horiuchi, các phần mềm đồ họa để vẽ tranh trên máy tính thường có bản quyền rất đắt đỏ, trong khi đó Microsoft Excel là phần mềm được tặng kèm sẵn trong chiếc máy tính mà ông đang sử dụng. Còn phần mềm Paint đi cùng với Windows thì lại quá khó để vẽ tranh.
Mặc dù ông Horiuchi chưa từng sử dụng phần mềm Excel trước đây cho công việc của mình, tuy nhiên trong thời gian đi làm trước khi nghỉ hưu, ông thường xuyên thấy các đồng nghiệp sử dụng Excel để vẽ biểu đồ, nên ông cho rằng cũng có thể sử dụng Excel để vẽ những bức tranh treo tuong mang đầy tính nghệ thuật.
Sự kỳ diệu trong tranh nghệ thuật được vẽ qua
Excel
Ông Horiuchi tin rằng Microsoft Excel là công cụ tuyệt
vời để sáng tác nên những bức tranh vẽ, vì theo ông chất lượng nghệ thuật không
đòi hỏi các giải pháp phức tạp và tốn kém.
Quá trình vẽ tranh nghệ thuật của ông cũng không hề dễ
dàng. Ông Horiuchi không sử dụng từng bảng tính của Excel để kết hợp với nhau
tạo ra tranh vẽ, mà thay vào đó ông sử dụng tính năng AutoShape trên Excel để
cẩn thận tạo ra những hình dạng phức tạp, sau đó ông tô màu chúng để tạo nên bức
tranh hoàn chỉnh. Nội dung những bức tranh vẽ của Hourichi thường là tái hiện
lại những bức tranh vẽ nổi tiệng của Nhật Bản.
Ông Horiuchi cho biết việc vẽ tranh trên bảng tính Excel
ban đầu rất phức tạp, tuy nhiên sau một thời gian dài trau dồi kỹ thuật, ông đã
có một kỹ năng để tạo nên những bức tranh vẽ tuyệt đẹp trên phần mềm này. Ông
đã có kinh nghiệm 10 năm vẽ tranh bằng Excel và đã có nhiều cuộc triển lãm tranh
vẽ của riêng mình trên khắp Nhật Bản.
Đến với Sieuthitranhdep.net không gian sống của bạn sẽ trở nên sinh động, tươi trẻ và đầy màu sắc với các thể loại tranh phong cảnh, tranh đồng hồ, tranh thêu, tranh da quy phù hợp với mọi thiết kế nội thất. Vui lòng liên hệ 0963.202.265 để được tư vấn nhiều hơn!
Posted in: tranh đẹpThứ Sáu, 1 tháng 8, 2014
Triệu chứng và cách điều trị viêm gan B mạn tính
Hàng năm, trên thế giới có khoảng 1-2 triệu người chết vì
các bệnh liên quan tới HBV. 1/4 số người nhiễm HBV mạn sẽ tử vong nếu không
được theo dõi hoặc điều trị. Do đó chúng ta cần hiểu rõ về các triệu chứng
bệnh viêm gan B mạn tính để có hướng chữa trị kịp thời.
Hiện nay, trên thế giới, ước chừng có khoảng 400 triệu
người nhiễm HBV mạn tính, 2/3 trong số này là ở các nước châu Á. Việt Nam, một
trong những quốc gia ở châu Á có số lượng ngưòi nhiễm HBV cao nhất khu vực cũng
như trên thế giới với khoảng 12 triệu người nhiễm HBV mạn.
Nhiễm HBV trong giai đoạn chu sinh thường xảy ra xung
quanh lúc chuyển dạ. > 95% trẻ sinh ra sẽ nhiễm HBV ở những bà mẹ có HBeAg(+)
hoặc nồng độ HBV-DNA máu >105copies/ml huyết thanh. > 90% trẻ nhiễm sẽ
nhiễm HBV mạn. Nhiễm vi rút viêm gan B ở người trưởng thành chủ yếu thông qua
con đường tình dục hoặc tiêm chích. Khoảng 10-25% số người nhiễm bị viêm gan
cấp , < 1% viêm gan ác tính và chỉ có khoảng 10% người nhiễm chuyển sang
nhiễm mạn tính. Tuy vậy, ở người bệnh có hệ miễn dịch bình thường, chỉ khoảng
1% bệnh nhân viêm gan cấp chuyển sang mạn tính.
Nhiễm HBV mạn tính được xác định khi HBsAg tồn tại kéo
dài trên 6 tháng hoặc ở bệnh nhân có HBsAg(+) đồng thời có IgG HBcAb(+). Nhiễm
HBV mạn là biểu hiện sự thất bại của hệ thống miễn dịch trong việc đào thải HBV
ra khỏi cơ thể. Sự thất bại này phụ thuộc vào thời điểm nhiễm HBV và cách thức
lây nhiễm. 90-95% số người nhiễm HBV trong giai đoạn chu sinh cho đến 1 tuổi sẽ
trở thành người mang vi rút mạn tính. Trong khi đó, chỉ có 20 -50% người nhiễm
HBV trong giai đoạn từ 1-6 tuổi và < 5% ở người trưởng thành.

Diễn tiến tự nhiên của bệnh cho thấy: Người nhiễm HBV
giai đoạn chu sinh có 3 giai đoạn.
Giai đoạn dung nạp miễn dịch(immune tolerance phase) đồng
nghĩa với không có tổn thương gan, giai đoạn này xuất hiện từ sau khi nhiễm cho
đến lúc trưởng thành, thời gian trung bình thường 10-20 năm.
Giai đoạn đào thải miễn dịch (immune clearance phase)
đồng nghĩa với giai đoạn tổn thương gan, thường sảy ra ở tuổi trưởng thành và
kéo dài vài chục năm, giai đoạn này bệnh cảnh lâm sàng luôn có sự sen kẽ giữa
những thời kỳ không hoạt động (inactive chronic hepatitis) và thời kỳ hoạt động
(active chronic hepatitis) thậm chí là viêm gan mạn bùng phát (flare of
hepatitis or acute exacerbation), viêm gan ác tính (fulminante
hepatitis).
Giai đoạn hoà nhập hay giai đoạn không nhân bản
(nonreplicative phase) đồng nghĩa với việc HBV không nhân bản, giai đoạn này
tổn thương viêm và hoại tử tế bào gan giảm dừng ở mức viêm gan tối thiểu thậm
chí không có viêm gan, người viêm gan mạn trở thành người mang mầm bệnh không
hoạt động (inactive HBsAg carrier state). Người nhiễm HBV sau sinh, diễn biến
của bệnh chỉ biểu hiện với 2 giai đoạn, thải trừ miễn dịch và không nhân
bản.
Viêm gan B mạn là bệnh có tiến triển thầm lặng, xen kẽ
giữa thời kỳ hoạt động(active) là thời kỳ ổn định(inactive), nhưng bệnh không
bao giờ tự giới hạn được. Vậy viêm gan B lây qua đường nào, nhiễm vi rút
viêm gan B ở người trưởng thành chủ yếu thông qua con đường tình dục hoặc tiêm
chích. Khoảng 10-25% số người nhiễm bị viêm gan cấp , < 1% viêm gan ác tính
và chỉ có khoảng 10% người nhiễm chuyển sang nhiễm mạn tính. Tuy vậy, ở người
bệnh có hệ miễn dịch bình thường, chỉ khoảng 1% bệnh nhân viêm gan cấp chuyển
sang mạn tính.
Viêm gan B mạn là tình trạng viêm và hoại tử gan nguyên
nhân gây ra bởi sự tồn tại của HBV kéo dài trên 6 tháng. Những bệnh nhân được
chẩn đoán viêm gan B mạn khi có HBsAg(+) >6 tháng hoặc HBsAg(+) đi kèm IgG-
HBcAb, nồng độ HBV-DNA >104 copies/ml (nhóm bệnh nhân có HBeAg(-)), >
105copies/ml (nhóm HBeAg(+)), ALT tăng cao thường xuyên hay từng đợt. Mức độ
viêm và hoại tử thì luôn thay đổi từ không có đến nặng, mức độ xơ hoá có giá trị
tiên lượng bệnh. Mức độ viêm và hoại tử và các biến chứng có mối liên quan chặt
chẽ với mức độ nhân lên của vi rút và nồng độ HBV – DNA huyết thanh.
Nhóm bệnh nhân có HBe(+) thường có tổn thương gan mức độ
nặng. Tỉ lệ chuyển đảo huyết thanh HBe tự nhiên khoảng 10 -15 % năm. Trong giai
đoạn chuyển đảo huyết thanh HBe hoặc trong trường hợp đột biến HBe thường sảy ra
tình trạng tăng ALT >10 ULN, bệnh biểu hiện như viêm gan cấp tính, người ta
gọi là đợt bùng phát của viêm gan B mạn (flare of hepatitis or acute
exacerbation). Những bệnh nhân viêm gan B mạn có HBe(-) tổn thương gan mức độ
nhẹ đến vừa nồng độ HBV – DNA ≥ 104 copies/ml thường là những bệnh nhân nhiễm
chủng HBV đột biến precore. Những bệnh nhân này thường gặp nhiều ở các nước châu
Á, châu Âu, Địa Trung Hải. Nhóm bệnh nhân HBe(-) thường có mức HBV-DNA thấp hơn
so với nhóm HBe(+) nhưng biến chứng xơ gan, ung thư tế bào gan lại có tần xuất
cao hơn.
Viêm gan B mạn thời kỳ ổn định đồng nghĩa với viêm gan
mạn tồn tại, người bệnh không có biểu hiện lâm sàng, nếu có thì rất nghèo nàn.
Các triệu chứng có thể gặp như mệt mỏi, kém ăn, đau tức hạ sườn phải, xét nghiệm
enzyme transaminase không tăng hoặc chỉ tăng dưói 2 lần giá trị bình thường,
HBV-DNA ≤ 10.000copies/ml, HBe(-). Chính vì vậy, người bệnh thường không biết,
bác sỹ thì thường bỏ qua do nhầm lẫn với ngưòi mang mầm bệnh không có triệu
chứng lâm sàng. Với tất cả các lý do trên, người bệnh tiến triển tới xơ gan, ung
thư tế bào gan lúc nào không biết. Do vậy, sinh thiết gan đánh giá tổn thương mô
bệnh học có giá trị quyết định chẩn đoán và điều trị.
Viêm gan B mạn thời kỳ hoạt động đồng nghĩa với viêm gan
mạn tiến triển. Biểu hiện lâm sàng có thể như một viêm gan cấp nhưng cũng có
nhiều trường hợp cũng rất nghèo nàn. Các triệu chứng lâm sàng thường gặp như mệt
mỏi, kém ăn, ngủ kém, gầy sút cân, nôn, buồn nôn, đau tức hạ sườn phải, suy giảm
hoạt động tình dụcở người trưởng thành, tiểu vàng, da vàng, gan to, chắc, có thể
thấy có những biểu hiện ngoài gan như đau mỏi khớp, xuất huyết da do viêm quanh
mạch, protein niệu do lắng đọng phức hợp miễn dịch gây viêm cầu thận, viêm nút
quanh động mạch. Các triệu chứng xét nghiệm cho thấy enzyme transaminase tăng
nhưng thường từ 2- 5 lần giá trị bình thường, một số trường hợp tăng trên 10
thậm chí trên 20 lần. Những trường hợp enzyme transaminase tăng trên 10 – 20 lần
thường có Bilirubin máu tăng, Albumin máu giảm, Globulin tăng, tỉ lệ Prothrombin
giảm. Những bệnh nhân này phải luôn đề phòng tiến triển nặng thành bệnh lý gan
mất bù.
Tiêu chuẩn chẩn đoán viêm gan B mạn(chronic hepatitis
B)
+ HBsAg (+) > 6 tháng hoặc HBsAg(+) và Anti
HBcIgG(+)
+ HBV – DNA > 105copies/ml hoặc >104copies/ml ở
nhóm HBeAg(-)
+ AST/ALT tăng liên tục hoặc từng đợt
+ Tổn thương viêm và hoại tử gan mức độ vừa,
nặng
Điều trị viêm gan B mạn: Cho đến nay, phải khẳng định
rằng không phải bệnh nhân viêm gan B mạn nào cũng phải điều trị và cũng chưa có
một phương thuốc nào thực sự có hiệu quả trong việc thải loại HBV ra khỏi cơ
thể.
Tiêu chuẩn điều trị (APASL - 2008)
Nhóm bệnh nhân có HBeAg(+)
+ HBV – DNA ≥ 105 copies/ml
+ ALT ≥ 2 ULN
+ hoặc người bệnh trên 35 tuổi có HBV- DNA ≥ 105
copies/ml, nhưng ALT bình thường hoặc tăng từ 1-2 ULN nếu có tổn thương mô bệnh
học với HAI inf ≥ 9, HAI fib ≥ 3.
Nhóm bệnh nhân có HBeAg(-)
+ HBV-DNA ≥ 104 copies/ml
+ ALT ≥ 2 ULN
+ hoặc người bệnh trên 35 tuổi có HBV- DNA ≥ 104
copies/ml, nhưng ALT bình thường hoặc tăng từ 1-2 ULN nếu có tổn thương mô bệnh
học với HAI inf ≥ 9 điểm, HAI fib ≥ 3 điểm.
Nhóm bệnh nhân xơ gan
+ HBV-DNA ≥ 104 copies/ml
Thuốc điều trị: Hiện nay, có 2 nhóm thuốc chính được sử
dụng trong điều trị viêm gan siêu vi mạn.
Thuốc điều biến miễn dịch, diệt siêu vi, chống tăng
sinh. Viêm gan B có chữa được không?
* Interferon alpha (IFN)
- Thuốc được chấp nhận sử dụng điều trị viêm gan B mạn
từ năm 1992.
- IFN có bản chất là phân tử polypeptid do tế bào lympho
B và tế bào mono và tế bào nhiễm siêu vi hoặc các chất kích thích sinh
Interferon như Cycloferon... tạo ra. Ngày nay, với công nghệ gen, người ta đã
tạo ra IFN tái tổ hợp.
- Thuốc có tác dụng kháng siêu vi theo 2 cơ
chế:
+ Cơ chế kháng siêu vi trực tiếp thông qua việc ức chế
quá trình giải mã của mARN, ly giải chuỗi mARN , ức chế tổng hợp protein của
HBV, ức chế quá trình gắn kết, xâm nhập, phóng thích lõi của HBV vào tế bào
gan.
+ Cơ chế kháng siêu vi gián tiếp thông qua cơ chế điều
hoà miễn dịch. IFN làm gia tăng khả năng trình diện thụ thể HLA- I trên bề mặt
tế bào gan nhiễm HBV, tăng bộc lộ phần Fc của phân tử kháng thể, tăng số lượng
tế bào CD4/CD8.
- Liều lượng, đường sử dụng.
+ Người lớn: 5- 10 MI/24 giờ, 3 lần/1 tuần, 4-6 tháng với
bệnh nhân có HBe(+), 12-24 tháng với bệnh nhân HBe(-). Tiêm dưới da.
+ Trẻ em: 6 MI/m2 da, liều tối đa không quá
10MI.
* Pegylated interferon alpha (Peg – INF ỏ)
- Peg – INFỏ được cấu tạo bởi sự kết hợp của 2 phân tử:
phân tử polyethylenglycol và phân tử INFỏ. . Pegasys của Roche là sự kết hợp của
phân tử INF ỏ a với phân tử polyethylenglycol có trọng lượng phân tử 40 kd. Peg
– Intron của Shering- Plough là sự kết hợp giữa INF ỏ b và phân tử
polyethylenglycol có trọng lượng phân tử 12 kd
- Cơ chế tác dụng giống INF alpha
- Hiệu quả điều trị và tính dung nạp tốt hơn
INFỏ
- Liều lượng và đường dùng
+ Pegasys 180ỡg/1lần/1tuần/48 tuần. Tiêm dưới
da
+ Peg-Intron 1,5ỡg/kg/1lần/1tuần/48 tuần.
* Thymosin alpha 1 (TFX, Thymalfasin, Zadaxin)
- Là một polypeptide tổng hợp hoặc chiết xuất từ tuyến
ức. Thuốc có tác dụng làm tăng quá trình biệt hoá của tế bào nguồn dòng lympho,
thúc đẩy nhanh chóng sự trưởng thành của các tế bào lympho, kích thích tế bào T
hỗ trợ gia tăng sản xuất IL2, IFNg, gia tăng trình diện lớp MHC1 lên bề mặt tế
bào nhiễm siêu vi, tạo điều kiện cho tế bào Tc, NK tiêu diệt.
- Hiệu quả điều trị: Cho đến nay, có rất ít dữ liệu thông
báo về hiệu quả điều trị của Thymosin alpha 1 trong điều trị viêm gan B
mạn.
- Liều lượng và đường dùng: Thymalfasin (Zadaxin)
3,6mg/1lần/1tuần/24 -48 tuần. Tiêm dưới da.
Nhóm thuốc analogue nucleos(t)it – thuốc kháng siêu vi
đường uống
- Nhóm thuốc analogue nucleos(t)id là các có cấu trúc
tương tự như các nucleotid. - Thuốc ức chế sự nhân lên của HBV bằng cách ức chế
enzyme DNApolymerase, enzyme reverse transciptase thông qua cơ chế cạnh tranh
với các nucleotid nội sinh. Kết quả làm ngừng quá trình tổng hợp phân tử ADN của
virút.
- Các thuốc kháng siêu
* Lamivudin: Là đồng phân tả triền của Cytosin có công
thức hoá học 2’- 3’dideoxy -3’- thyacytidin. Liều dùng: người lớn viên 100mg,
1v/24giờ ít nhất là một năm.
* Adefovir: Là analog của adenin monophosphate.Thuốc ức
chế sự nhân bản của HBV thông qua ức chế giai đoạn khới động (primer) của quá
trình phiên mã do ngăn cản kết hợp của dATP vào primer. Liều dùng
10mg/ngày.
* Entecavir: là đồng đẳng của guanosine, có tên hoá học
là 2-amino-1,9-dihydro-9 [(1S,3R,4S) - 4hydroxy-3-(hydroxymethyl)- 2
methylenecyclopentyl) ] 6H-purin-6-one,monohydrate. Liều dùng, với bệnh nhân lần
đầu tiên điều trị các thuốc kháng siêu vi: 0,5mg/ngày, với bệnh nhân kháng
thuốc, liều 1mg/ngày.
* Telbivudine: là đồng phân dạng L của thymidin. Liều
dùng 600mg/ngày
* Tenofovir: có cấu trúc tương tự adefovir, bản chất là
9-(2-phosphonomethoxypropyl)adenin. Liều dùng 300mg/ngày.
* Clevudin: là analog của pyrimidine nucleotite, thuốc ức
chế enzyme sao chép ngược. Liều dùng 30 mg/ngày
* Một số thuốc đang trong giai đoạn thử nghiệm lâm
sàng
- Emtricitabine
Posted in: bệnh gan


19:30
Nặc danh